Quân Khu - Chương 3
Anh nhét vào tay tôi một gói vải — hai mươi tệ, một túi táo tàu, và một đôi giày bông mới bác dâu khâu.
Mặt vải nhung đen, đế giày ngàn lớp, từng mũi kim đều đặn.
Kiếp trước tôi mang đôi giày bông cũ vá vá suốt ba mươi năm.
Kiếp này tôi có đôi mới rồi.
Khi tàu lăn bánh, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cảnh tuyết trôi lùi từng khung hình.
Thành phố mới, cuộc sống mới.
Từ nay về sau, mỗi bước đường của Hà Mạn đều do chính mình bước đi.
Bốn năm đại học, tôi giống như miếng bọt biển khô quăng vào nước.
Năm ba, trường có một giảng viên trẻ mới tới, họ Lục, tên Lục Hoài An.
Anh từ Bắc Kinh đến, đeo kính gọng đen, dạy văn học hiện đại.
Khi giảng bài thích vẽ hình người nhỏ trên bảng, cả lớp cười ầm, chỉ có tôi ngồi hàng cuối cúi đầu ghi chép.
Một hôm tan lớp, anh đi tới bên tôi.
“Đồng chí Hà Mạn, em ghi chép rất chăm.”
“Thầy giảng rất hay.”
Anh nhìn tôi một lúc rồi nói.
“Sau này em sẽ là một giáo viên rất tốt.”
Không phải lời đường mật.
Nhưng trong lòng tôi ấm rất lâu.
Mùa đông năm cuối đại học, tôi đang soạn bài trong lớp thì ngoài cửa sổ có người gọi tên tôi.
Thẩm Vọng Chu đứng dưới cây ngô đồng.
So với sáu năm trước đã già đi nhiều.
Tóc bạc một mảng, mặc bộ quân phục cũ, trên vai không còn quân hàm — đã chuyển ngành.
Anh ta lấy từ túi ra một thứ đưa cho tôi.
Một chiếc vòng bạc.
Không phải chiếc của mẹ tôi, mà là chiếc mới làm, đường nét thô.
“Tôi dành dụm hai năm nhờ người làm. Tôi biết chiếc của mẹ em không thể lấy lại… nhưng ít nhất tôi nên trả em một cái.”
Tôi nhìn chiếc vòng rất lâu.
“Thẩm Vọng Chu, anh không sai ở chỗ làm mất chiếc vòng.”
“Anh sai ở chỗ — anh chưa từng cảm thấy nó quan trọng.”
“Trong mắt anh nó chỉ đáng mười hai tệ rưỡi. Anh thấy Phương Dao cần một đôi giày còn quan trọng hơn việc tôi giữ kỷ vật của mẹ.”
Tay anh ta hạ xuống, chiếc vòng bị nắm chặt trong lòng bàn tay.
“Mạn Mạn, anh thật sự biết sai rồi.”
“Biết rồi cũng đã muộn. Anh sống cho tốt đi.”
Tôi quay người bước vào cổng trường.
Không quay đầu lại.
Năm 1982, tôi tốt nghiệp.
Được phân công về dạy văn ở Trường Trung học số Một của tỉnh.
Ngày đầu tiên đứng trên bục giảng, có học sinh hỏi:
“Cô Hà, trước đây cô làm gì ạ?”
“Trước đây à, nội trợ.”
Học sinh cười.
Tôi cũng cười.
Trong nụ cười đó có chua xót, có ngọt ngào, có tất cả những khổ cực và không cam lòng của tám năm qua.
Nhưng nhiều hơn cả là niềm tự hào.
Mùa thu cùng năm đó, Lục Hoài An được điều về Đại học tỉnh.
Anh đến trường Nhất Trung làm một buổi diễn thuyết, chúng tôi gặp lại nhau.
Anh nhìn thấy tôi mặc đồng phục giáo viên đứng cạnh bục giảng, sững lại hai giây rồi mỉm cười.
“Tôi đã nói rồi, em sẽ trở thành một giáo viên giỏi.”
Sau đó anh mời tôi đi xem một bộ phim, tan rạp thì đưa tôi về nhà.
Đến dưới lầu anh dừng lại.
“Hà Mạn, em có muốn cùng tôi ăn cơm không? Không phải bữa hôm nay, mà là mọi bữa sau này.”
Tôi suy nghĩ ba ngày.
Sáng ngày thứ tư, tôi mang đến văn phòng anh một hộp cơm.
Hai quả trứng, một bát cháo.
Trên nắp hộp dán một mảnh giấy:
“Mỗi bữa đều tính.”
Mùa xuân năm 1983 chúng tôi kết hôn.
Đám cưới không lớn, Hà Kiến Quân làm người dẫn lễ, bác dâu khóc suốt cả buổi.
Sính lễ Lục Hoài An cho tôi là một chiếc nhẫn vàng, một chiếc đồng hồ Thượng Hải, và một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu.
Tôi nói tốn kém quá.
Anh nói:
“Mỗi thứ anh cho em đều là tiền anh tự kiếm được, từng đồng từng xu đều sạch sẽ.”
Câu nói đó tôi nhớ cả đời.
Sau khi kết hôn, cuộc sống bình dị mà vững vàng.
Anh làm nghiên cứu, tôi dạy học.
Tiền lương của anh và của tôi để chung, dùng cho chính cuộc sống của chúng tôi.
Mùa đông anh mua giày bông cho tôi, mùa hè mua váy.
Khi có tiền thưởng, việc đầu tiên là hỏi tôi muốn ăn gì.
Tôi nói không cần mua.
Anh lại nhìn tôi rất nghiêm túc:
“Những thứ đáng tiêu thì phải tiêu. Em xứng đáng.”
Năm 1984 chúng tôi có con gái.
Anh bế con cười không khép được miệng, câu đầu tiên nói là:
“Con giống em.”
Câu thứ hai:
“Tiền mừng tuổi phải để dành hết làm của hồi môn cho nó, không ai được động vào.”
Tôi nhìn anh, bỗng nhiên nghĩ đến Thẩm Vọng Chu.
Một người cho rằng đồ của tôi chẳng đáng tiền, tiện tay đem cho người khác.
Một người thì khi con gái còn chưa lớn đã bắt đầu để dành của hồi môn cho nó, sợ có ai động vào dù chỉ một xu.
Thời gian trôi rất nhanh.
Con gái lớn lên, tôi trở thành phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn.
Lục Hoài An được phong giáo sư.
Mùa hè năm 1996, Hà Kiến Quân gọi điện cho tôi.
Giọng anh có chút phức tạp.
“Mạn Mạn, bên Thẩm Vọng Chu với Phương Dao… xảy ra chuyện lớn rồi.”
“Chuyện gì?”
“Phương Dao bỏ trốn rồi. Mang theo tiền chạy theo một người buôn bán từ miền Nam.”
Tay tôi đang cầm cốc nước khựng lại một chút.
Hà Kiến Quân nói tiếp:
“Thẩm Vọng Chu hai năm trước bị cho thôi việc, ở nhà uống rượu rồi đánh người. Mấy năm nay Phương Dao bị hắn đánh không nhẹ. Con trai cô ta là Đoàn Đoàn cũng chẳng nên thân, suốt ngày lêu lổng. Chắc Phương Dao chịu hết nổi, nhân lúc Thẩm Vọng Chu say rượu gom sạch đồ đáng tiền trong nhà rồi bỏ đi, đi không để lại dấu vết.”
Tôi im lặng một lúc.
Kiếp trước Phương Dao sống thế nào?
Mặc quần áo của tôi đi khắp khu quân khu, ai cũng khen cô ta đẹp và hiền, con trai được Thẩm Vọng Chu cho đi học đại học.
Còn kiếp này…
Không có tôi làm kẻ chịu thiệt, Thẩm Vọng Chu không thăng chức.
Không thăng chức thì không có quyền thế.
Phương Dao vốn dĩ chỉ nhắm vào tiền đồ của anh ta.
Tiền đồ mất rồi, ân tình cũng chẳng còn giá trị.
Cô ta chạy.
Còn dứt khoát hơn cả tôi năm đó.
Chỉ là khi chạy, cô ta mang theo đồ của Thẩm Vọng Chu.
Giống hệt năm xưa hai người họ cùng nhau mang đồ của tôi đi vậy.
“Mạn Mạn, bây giờ Thẩm Vọng Chu chỉ còn một mình. Nghe nói cả người hắn sụp đổ rồi.”
Hà Kiến Quân ngập ngừng một chút.
“Hắn nhờ người chuyển lời… muốn gặp em.”
“Không gặp.”
“Ừ, anh cũng thấy không cần thiết.”
Cúp điện thoại, Lục Hoài An từ bếp mang ra một bát chè nấm tuyết.
“Có chuyện gì vậy?”
“Không có gì. Chuyện ở quê thôi.”
“Quan trọng không?”
Tôi nhận bát chè, uống một ngụm rồi lắc đầu.
Không quan trọng nữa.
Không còn liên quan gì đến tôi nữa.
Trước khi Phương Dao bỏ trốn, thật ra cô ta đã từng đến tìm tôi.
Đó là đầu mùa hè năm 1996.
Không biết cô ta hỏi thăm bằng cách nào mà tìm được địa chỉ nhà tôi, đứng chờ ngay ngoài cửa.
Khi tôi tan làm về, thấy cô ta ngồi xổm ở hành lang.
Gần như không nhận ra nữa.
Tóc vàng khô, trên mặt có một mảng bầm tím, khóe miệng còn rách một vết.
Cô ta mặc chiếc áo len cũ xù lông, đầu gối vá chằng vá đụp.
Cô ta ngẩng đầu nhìn tôi, mắt đỏ lên.
“Chị Mạn Mạn.”
Tôi đứng ở đầu cầu thang nhìn cô ta vài giây.
“Lên đi.”
Cô ta ngồi trong phòng khách nhà tôi, ánh mắt đảo một vòng quanh căn phòng.
Sofa sạch sẽ, tivi, trên bàn trà đặt ảnh con gái tôi, ngoài ban công phơi chiếc sơ mi trắng của Lục Hoài An.
Cô ta nhìn những thứ đó, môi dần dần mím chặt.
Tôi rót một cốc nước đặt trước mặt cô ta.
“Nói đi, chuyện gì?”
Cô ta không nhận cốc nước.
Im lặng rất lâu mới mở miệng.
“Chị Mạn Mạn, em muốn mượn ít tiền.”
“Bao nhiêu?”
“Ba… ba trăm tệ.”
Năm 1996, ba trăm tệ không phải con số nhỏ.
“Mượn tiền làm gì?”
Cô ta cúi đầu, ngón tay xoắn chặt ống tay áo len, vết bầm dưới ánh đèn càng rõ.
“Em muốn đi.”
“Đi? Đi đâu?”
“Đi đâu cũng được.”
Giọng cô ta bỗng khàn lại.
“Em chịu không nổi nữa.”
Tôi dựa lưng vào ghế, nhìn cô ta.
“Thẩm Vọng Chu đánh cô?”
Cô ta không nói.
Nhưng vai run lên.
“Từ bao lâu rồi?”
“…Ba năm rồi. Từ khi anh ta mất việc thì bắt đầu. Hễ uống rượu là đánh.”
Cuối cùng Phương Dao cũng ngẩng đầu lên, trong mắt đầy nước.
“Khi đánh em, anh ta mắng em… mắng em hại anh ta. Nói nếu không có em thì anh ta đã không mất tiền đồ. Nói nếu không có em thì chị cũng sẽ không ly hôn với anh ta.”
Cô ta nhìn tôi, nước mắt chảy dọc theo vết bầm trên mặt.
“Anh ta nói chuyện hối hận nhất đời này là quen biết em.”
Tôi không nói gì.
“Chị Mạn Mạn, chị không biết bây giờ anh ta thành ra thế nào đâu. Ngày nào cũng uống rượu, không ra ngoài, không tìm việc. Trong nhà nghèo đến mức không có gì ăn. Đoàn Đoàn đòi tiền đi học, anh ta cầm chai rượu ném thẳng. Đoàn Đoàn hận anh ta đến nghiến răng, suốt ngày đánh nhau lêu lổng…”
Nói đến đây cô ta bật khóc.